I – NHỮNG ĐIỂM MẠNH
1. Cố gắng tỏ ra tự tin
Sở dĩ nói “cố gắng” là bởi vì thực tế, hầu hết SV chưa có được một sự tự tin cần thiết, chưa đủ chững chạc để bắt đầu cũng như kết thúc một tiết dạy học (do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan). Dù vậy, điều đáng ghi nhận ở đây là họ đã cố gắng rất nhiều để tỏ ra tự tin trước giáo viên hướng dẫn cũng như trước học sinh. Sự cố gắng này thể hiện ở ngôn ngữ diễn đạt, ở cách đi lại trên bục giảng cũng như trong lớp học, ở việc xử lí các tình huống dạy học và giáo dục trên lớp,… Qua dự một số tiết dạy của SV ĐHSP Hà Nội tại trường phổ thông, bên cạnh những tiết dạy còn nhiều điều phải bàn thì có một số tiết dạy có thể nói là “cứng”. Ví dụ như giờ dạy của SV Phạm Hoài Thu (Khoa Vật lí – K56) hay như giờ dạy của SV Lê Thị Huyền (Khoa Ngữ văn – K56) tại trường THPT Xuân Đỉnh (Hà Nội). Chắc chắn các giáo sinh này sau khi ra trường sẽ nhanh chóng tiếp cận và hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học ở trường phổ thông. Nhìn chung, người dự khe khắt có thể đánh giá rằng SV chưa tự tin và chưa chủ động trong việc điều hành lớp, dẫn dắt HS tiếp nhận kiến thức. Tuy nhiên, người dự phải đặt mình vào vị trí của SV để thấy hết được những khó khăn cũng như những nỗ lực của họ trong việc thể hiện “bản lĩnh” cá nhân. Phải nhận ra được tiềm năng của SV, và phải có niềm tin rằng trong thời gian không xa sau khi tốt nghiệp ra trường, với sự cố gắng nỗ lực, họ sẽ là những giáo viên đủ chín chắn, chững chạc để hoàn thành nhiệm vụ dạy học – giáo dục. Có chăng, nên đặt ra vấn đề là trong giảng đường đại học, song song với việc giúp SV lĩnh hội kiến thức chuyên môn thì làm thế nào để có thể giúp SV tự tin hơn, chủ động hơn khi đứng trên bục giảng hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức trong thời gian thực tập ? Đương nhiên, điều này gắn với hiệu quả của hoạt động rèn luyện NVSP trong trường đại học.2. Chuẩn bị bài dạy công phu
Phải khách quan để công nhận rằng đây là một ưu điểm rất đáng ghi nhận của giáo sinh. Có thể thấy được ưu điểm này qua việc chuẩn bị đồ dùng dạy học và việc soạn giáo án.Giáo án chính là kế hoạch bài học của giáo viên. Tức là toàn bộ kiến thức bài học cần triển khai, dung lượng kiến thức hợp lí cần trình bày trên bảng, hệ thống câu hỏi trong tiết học, dự kiến các tình huống HS trả lời, câu hỏi luyện tập, tổng kết, lời dẫn vào bài, các kiến thức mở rộng, nâng cao,.. Nhìn vào giáo án, có thể “đọc” được toàn bộ ý đồ của người dạy. Các giáo án của giáo sinh, hầu hết đều được giáo viên hướng dẫn ở trường phổ thông khen ngợi về cách soạn công phu, nghiêm túc. Để giải thích cho sự công phu này, ngoài việc ghi nhận ý thức trách nhiệm cao của giáo sinh, giáo viên hướng dẫn đều cho rằng giáo sinh đã rất biết khai thác nguồn giáo án điện tử hiện có trên mạng internet. Tìm hiểu một số giáo án của giáo sinh, có thể thấy rõ điều này. Ví như giáo án bài học Luyện tập đường tròn của giáo sinh Lê Thị Huyền (Khoa Toán), giáo án bài học Hồi trống Cổ Thành của giáo sinh Nguyễn Phú Hải (Khoa Ngữ văn), giáo án bài học Người cầm quyền khôi phục uy quyền của giáo sinh Lê Công Phương Anh (Khoa Ngữ văn), giáo án bài học Khúc xạ ánh sáng của giáo sinh Phạm Hoài Thu (Khoa Vật lí),… Ưu điểm nổi bật của các giáo án này là được trình bày đẹp, nội dung kiến thức được thể hiện khoa học, mạch lạc, đặc biệt, phần bài tập luyện tập và kiến thức mở rộng nâng cao được giáo sinh chú ý đầu tư và thực hiện rất có chất lượng. Để khẳng định lại ưu điểm này của giáo sinh, xin được trích dẫn nguyên văn lời nhận xét của cô Loan – giáo viên hướng dẫn môn Toán của trường THPT Xuân Đỉnh, Hà Nội : “Nhìn chung, SV soạn giáo án rất nghiêm túc, bài bản, cấu trúc bài soạn khoa học, hình thức trình bày đẹp, đúng và đủ nội dung cần thiết. Nhiều giáo án có dung lượng kiến thức vừa sâu, vừa đa dạng, phong phú”. Thiết nghĩ, đây là xuất phát điểm rất quan trọng cho sự nghiệp dạy học của người giáo viên trong tương lai.
3. Kiến thức chuyên môn vững
Có thể thấy được điều này qua giáo án của giáo sinh cũng như qua tiết dạy học trên lớp. Hầu như ở các tiết dự giờ dạy của giáo sinh, người dự đều có chung nhận xét là về mặt kĩ năng, còn có nhiều điều phải bàn nhưng rất ít, hầu như là không có, trường hợp sai về kiến thức. Không những khai thác đủ kiến thức quy định trong chương trình, sách giáo khoa, giáo sinh còn chịu khó tìm tòi tài liệu tham khảo khác để mở rộng, nâng cao kiến thức, tạo nội dung bài học có chiều sâu, gây được hứng thú học tập cho học sinh. Ví như giờ dạy của giáo sinh Nguyễn Phú Hải (Khoa Ngữ văn), khi dạy bài Hồi trống Cổ Thành, ở phần tóm tắt tác phẩm, ngoài kiến thức trong sách giáo khoa, giáo sinh này đã công phu chuẩn bị và khéo léo giới thiệu thêm về hoàn cảnh lịch sử, về các nhân vật Quan Công, Trương Phi, Lưu Bị,… với các đặc điểm về hình dáng, tính cách… khiến giờ học trở nên sinh động hơn, kiến thức bài học cũng sâu sắc hơn. Nhiều giáo viên hướng dẫn ở trường phổ thông cũng không tiếc lời khen rằng có nhiều sinh viên có kiến thức chuyên môn rất tốt, có một số em xuất sắc. Đây cũng là một ưu điểm cần ghi nhận. Nó chứng tỏ quãng thời gian học hành nghiêm túc trên giảng đường đại học của SV. Có thể minh chứng thêm về điểm mạnh nổi trội này của SV Đại học Sư phạm Hà Nội qua một số ý kiến nhận xét của giáo viên phổ thông : “SV Sư phạm Hà Nội nắm kiến thức chắc hơn SV Đại học Sư phạm Xuân Hòa, SV tốt nghiệp ĐHSP Hà Nội thường được ưu tiên tuyển chọn” (Hiệu phó trường THPT Phủ Lí B – Hà Nam) ; “Có em chuyên môn vững còn được giao dạy mục phần dành cho học sinh giỏi (Tổ trưởng tổ Toán – THPT Phủ Lí B – Hà Nam) ; “Kiến thức vững vàng hơn so với SV Sư phạm Xuân Hòa. Việc soạn giáo án rất tốt, ít phải sửa” (Tổ trưởng tổ Văn – THPT Mĩ Hào – Hưng Yên).II – NHỮNG ĐIỂM YẾU
Bên cạnh những điểm mạnh như đã nêu ở trên, qua trao đổi, phỏng vấn và qua dự giờ dạy, có thể khái quát một số điểm yếu của giáo sinh như sau :1. Khả năng diễn đạt
Nói khả năng diễn đạt cũng tức là nói khả năng sử dụng ngôn ngữ. Nếu tri thức là nguyên liệu để tạo nên nội dung bài giảng của GV thì ngôn ngữ chính là công cụ, là phương tiện để truyền tải tri thức tới học sinh. Đây là một trong những kĩ năng quan trọng đối với nghề dạy học. Thực tế, trong tiết dạy, giáo sinh có nhược điểm là nói nhanh, nói nhiều, nói ngọng, tham kiến thức, chưa tạo được các điểm nhấn, chưa khắc sâu kiến thức, chưa tạo được phong cách sư phạm. Qua trao đổi, có thể thấy lí do của những nhược điểm trên là giáo sinh chưa được tập giảng nhiều, ít tiếp xúc với học sinh phổ thông. Hơn nữa, tâm lí sợ hết giờ mà chưa hết bài cũng là một lí do khiến giáo sinh phải “hấp tấp”, “vội vã” gần như trình bày bài giảng mà không chú ý đến đối tượng học sinh, nhất là thời gian gần cuối tiết học. Những lí do này, hoàn toàn có thể khắc phục được qua việc đổi mới cách thức rèn luyện nghiệp vụ sư phạm ở trường đại học, qua thời gian thực hành đứng lớp, trực tiếp giảng dạy. Các “cơ hội” để SV rèn luyện ngôn ngữ nói, rèn luyện khả năng diễn đạt là : tăng cường phát biểu trước lớp, trao đổi nhóm ; tăng cường viết bảng hoặc làm bài tập ; thực hành viết các báo cáo chuyên đề, thảo luận trong các buổi xêmina ; đặc biệt, cơ hội để SV rèn luyện toàn diện về việc sử dụng ngôn ngữ là các giờ tập giảng.2. Khả năng quản lí lớp
Có thể nói đây là điểm yếu nhất của giáo sinh, kể cả những em ở lớp “tài năng”, lớp “chất lượng cao”. Trong giờ dạy, giáo sinh chỉ quản lí được một số học sinh phía trên lớp và cũng chỉ quản lí được phần đầu của bài học. Hiện tượng học sinh nói chuyện, ngủ gật, không quan tâm đến bài giảng là điều thường thấy trong giờ dạy của giáo sinh. Và không chỉ người dự quan sát được, chính bản thân giáo sinh cũng thừa nhận điểm yếu nhất trong tiết lên lớp chính là khâu quản lí lớp. Nhiều giáo sinh lúng túng trong việc kết hợp giữa nói + ghi bảng + quan sát lớp. Các hoạt động trong tiết học diễn ra rời rạc, mất nhiều thời gian và giáo sinh lại càng lúng túng vì sợ hết giờ. Khi đứng trên bục giảng, giáo sinh thường đứng một chỗ, ít di chuyển, ánh mắt không thật tự tin bao quát hết cả lớp. Tăng cường các giờ đứng lớp, sớm được tiếp xúc với nhà trường phổ thông, chắc chắn sẽ khắc phục được yếu điểm này ở giáo sinh trong thời gian thực tập, rút ngắn khoảng cách “học nghề” khi giáo sinh tốt nghiệp về nhận công tác tại trường phổ thông.3. Khả năng xử lí các tình huống sư phạm
Các tình huống sư phạm nảy sinh ngoài dự kiến trong tiết dạy học khiến giáo sinh rất lúng túng. Thông thường, giáo sinh soạn giáo án rất công phu và chỉ “chăm chăm” làm thế nào để thực hiện hết dung lượng kiến thức được thể hiện trong đó. Qua trao đổi, khi được hỏi “Trong thời gian thực tập ở trường phổ thông, khi dạy học, bản thân em thấy yếu nhất ở điểm nào ?, có giáo sinh “thật thà” tâm sự : “Em được phân công dạy lớp chọn của trường. Trong tiết dạy, có học sinh rất chăm, ngoan và học giỏi đã đặt những câu hỏi khó khiến em lúng túng không trả lời được”. Và giáo sinh này cho đây là yếu điểm của em. Một giáo sinh khác thì lại cho khó khăn của mình là chưa làm thế nào để xử lí được một số học sinh cá biệt trong trong giờ dạy. Phần đông giáo sinh cho yếu điểm của mình trong giờ dạy học là chưa tạo được hứng thú cho học sinh, chưa thu hút sự chú ý của học sinh, chưa xử lí được các câu trả lời của học sinh trên lớp. Học sinh trả lời đúng, sai giáo sinh chưa linh hoạt khen, chê động viên kịp thời. Hoặc từ tình huống học sinh trả lời sai giáo sinh chưa chỉ ra nguyên nhân tại sao lại sai và gợi ý để học sinh đó làm lại cho đúng hoặc hướng dẫn các học sinh khác làm đúng. Có giáo sinh trước khi gọi học sinh trả lời hứa hẹn cho điểm nhưng khi học sinh trả lời xong lại quên mất. Có thể điểm rất nhiều các tình huống chưa “sư phạm” của giáo sinh trong tiết dạy học. Chung quy lại, đây cũng là một điểm yếu rất “nổi trội” của giáo sinh. Nguyên nhân là trong thời gian học tập tại trường đại học, các em chưa được hình dung, chưa được “dự báo”, chưa được rèn luyện nhiều để xử lí các tình huống ngoài dự kiến, ngoài tầm kiểm soát của các em. Đây cũng là một vấn đề còn bỏ ngỏ, là một thách thức cho bộ môn Phương pháp dạy học ở trường ĐHSP.4. Khả năng trình bày bảng
Có thể khẳng định hầu hết giáo sinh đều có “khả năng” trình bày bảng xấu, chưa khoa học. Chữ viết bảng chưa thẳng hàng, chưa biết chọn các kiến thức trọng tâm để ghi bảng mặc dầu trong giáo án có chỉ rõ đâu là phần ghi bảng, đâu là phần diễn giảng của giáo viên, đâu là phần trả lời của học sinh. Nhiều giáo sinh viết bảng xong rồi lại xóa khiến cho học sinh rất khó ghi vào vở. Khi trao đổi, các em đã thật thà trải lòng : “Chúng em chưa thể phối hợp nhịp nhàng các hoạt động vừa giảng vừa quản lí lớp vừa ghi bảng được. Chúng em rất sợ hết giờ mà chưa hết bài nên không dám ghi bảng. Hơn nữa, khi đứng trên bục giảng, tâm lí sợ hết giờ và những lúng túng đã khiến chúng em quên hết các dự kiến ghi bảng trong giáo án” (Em Nhung – Khoa Toán).Như tiêu đề Đôi điều suy nghĩ…, trong khuôn khổ một bài báo, người viết không đi sâu tìm hiểu thực trạng cũng như đề xuất các biện pháp cụ thể trong việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên trong trường ĐHSP mà chỉ muốn nêu lên cảm nhận chung nhất về những điểm mạnh, điểm yếu của giáo sinh trong giờ lên lớp ở trường phổ thông. Điểm mạnh của SV là ý thức trau dồi kiến thức chuyên môn, điểm yếu thuộc về năng lực sư phạm. Nhìn nhận một cách khách quan, thì vẫn nên lạc quan về những thế hệ giáo viên đã và đang được đào tạo trong nhà trường đại học sư phạm. Bởi, những điểm non, yếu, thiếu về kĩ năng nghiệp vụ sư phạm của SV hoàn toàn có thể khắc phục được. Điều đó được bắt đầu từ việc nhìn nhận một cách đúng đắn vai trò, vị trí của nhiệm vụ đào tạo nghề trong trường sư phạm. Từ đó tìm ra những cách thức, biện pháp phù hợp nhằm rèn luyện, trang bị cho SV những kĩ năng dạy học cần thiết trước khi xuống trường phổ thông thực tập. Nhiệm vụ lớn này đang trông chờ vào đội ngũ giảng viên đại học nói chung, giảng viên bộ môn Phương pháp dạy học ở mỗi khoa nói riêng và đặc biệt là đang trông chờ vào chính nhận thức và ý chí nỗ lực của SV trong việc tự tạo cho mình cơ hội để rèn luyện, để trau dồi các kĩ năng nghiệp vụ cần thiết, đáp ứng các yêu cầu đổi mới giáo dục ở nhà trường PT.














