b) Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ nhiệm;
c) Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ học sinh;
d) Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng(1) .
Như vậy, GVCN có nhiệm vụ rất lớn, là người thay mặt nhà trường quản lí trực tiếp quá trình học tập, rèn luyện của học sinh. Họ vừa là nhà giáo dục, người quản lí, người tổ chức, người tư vấn và nuôi dưỡng các ước mơ, khát vọng của tập thể cũng như từng cá nhân học sinh. Họ là người chịu trách nhiệm đối với kết quả giáo dục và học tập của học sinh. Có thể nói người GVCN có ảnh hưởng rất lớn đến học sinh, họ vừa là người đại diện, là cầu nối giữa nhà trường - cha mẹ -cộng đồng - các GV khác trong trường với học sinh.
Qua tìm hiểu thực tế về những việc và những loại sổ sách mà GVCN phải thực hiện(2), kết quả như sau:
(i) Những việc mà người GVCN phải làm:
- Tìm hiểu, phân loại học sinh trong lớp phụ trách;
- Lập kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp và tổ chức thực hiện kế hoạch;
- Xây dựng tập thể học sinh lớp do mình phụ trách;
- Tổ chức thực hiện các nội dung giáo dục toàn diện;
- Đánh giá kết quả giáo dục học sinh;
- Liên kết với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo dục học sinh;
- Thường xuyên tự bồi dưỡng để phát triển nghề nghiệp, đặc biệt tự bồi dưỡng về các kiến thức, kỹ năng chuyên biệt có liên quan đến các chức năng đặc thù của người GVCN…
(ii) Những loại hồ sơ sổ sách mà một GV phải làm và phải quản lí:
- Sổ chủ nhiệm,
- Sổ điểm cái (tên HS, địa chỉ, thông tin về từng cá nhân HS; có tất cả điểm - danh từng tháng, kết quả học tập)
- Sổ chuyên cần,
- Sổ thu - chi,
- Sổ liên lạc,
- Học bạ;
- Sổ theo dõi HS cá biệt,
- Sổ theo dõi nghề của HS,
- Sổ theo dõi công tác Đoàn,
- Sổ ghi đầu bài.
- Biên bản sinh hoạt lớp (do thư kí lớp ghi);
- ...
2. Khả năng đáp ứng của SVTT đối với yêu cầu của công tác chủ nhiệm lớp hiện nay ở trường phổ thông
Năm học 2008 - 2009, Viện NCSP- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và đề tài SPHN-08-248 TĐ đã tiến hành đợt điều tra, phỏng vấn trực tiếp Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn, GV hướng dẫn của các trường có SV Sư phạm Hà Nội đến thực tập thuộc các tỉnh: Hải Dương, Hưng Yên, Tuyên Quang và Hà Nội (185 người); sinh viên năm thứ 4 của 13 khoa trong trường (495 em) sau khi kết thúc thực tập về những mặt mạnh, những điểm cần khắc phục và những kiến nghị cho đào tạo. Kết quả cho thấy, có sự thống nhất chung ở cả sinh viên cũng như BGH, GV hướng dẫn thực tập là: đa số sinh viên ĐHSPHN có kiến thức chuyên môn vững, tư cách đạo đức, tác phong chững chạc đáp ứng các yêu cầu của một giáo viên tương lai. Tuy nhiên, những điểm chưa đạt, chưa đáp ứng yêu cầu của giáo dục phổ thông đều liên quan đến nghiệp vụ sư phạm (NVSP), trong đó đáng quan tâm nhất là công tác chủ nhiệm lớp.
2.1 Những khó khăn của sinh viên thực tập trong công tác chủ nhiệm lớp
Qua khảo sát và phỏng vấn GV hướng dẫn, sinh viên thực tập và BGD trường có sinh viên thực tập về công tác chủ nhiệm, chúng tôi thu được kết quả cụ thể như sau:
- SV không biết lập kế hoạch cho công tác chủ nhiệm, không biết bắt đầu từ đâu, không biết làm gì, làm như thế nào?;
- SV không biết cách tổ chức một giờ sinh hoạt lớp, hay tổ chức các hoạt động theo chủ đề…: Qua điều tra của chúng tôi cho thấy những họat động chủ yếu mà sinh viên tiến hành trong giờ sinh hoạt lớp đó là: phê bình, nhắc nhở HS có những biểu hiện chưa tốt làm ảnh hường đến thành tích của lớp (84.4%); Tổ chức một số hoạt động có nội dung bổ ích (82%); GV tự tổng kết, nhận xét hoạt động của lớp trong tuần (75.5%); đề nghị HS tham gia nhận xét (70.5%)... Kết quả này cho thấy cách thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp rất đơn điệu, buồn tẻ, giống như là một giờ "xử án", làm cho HS, nhất là những HS có khuyết điểm không hứng thú nếu không muốn nói là "sợ" giờ sinh hoạt lớp.
- SV không biết làm các loại hồ sơ, sổ sách của trường phổ thông, nhiều sinh viên khi đi thực tập trong đoàn đã làm sai, làm hỏng sổ sách…: qua điều tra GV cho thấy chỉ có khoảng 1/3 số sinh viên thực tập biết cách làm và quản lí hồ sơ, sổ sách các loại...
- SV không biết tổ chức, làm việc với cha mẹ HS: Qua điểu tra GV hướng dẫn thực tập cho thấy chỉ có 16% sinh viên thực tập làm tốt công tác này. Còn đến 44.8% làm chưa tốt. Số còn lại là không đánh giá được. Và thực tế qua phiếu sinh viên cho thấy chỉ có 41.9% sinh viên có gặp gỡ, trao đổi với CMHS lớp mình phụ trách.
- SV không biết cách tìm hiểu, phân loại HS, tìm hiểu gia đình HS: có trường chúng tôi làm phép trắc nghiệm đơn giản: hỏi SV lớp chủ nhiệm là trong lớp có bao nhiêu em HS dân tộc, bao nhiêu HS nữ, bao nhiêu HS nam cũng chỉ có một số SV biết: Qua phiếu sinh viên cho thấy cách thức chủ yếu mà các em làm để tìm hiểu HS lớp mình phụ trách là thông qua GVCN, qua ban cán sự lớp. Còn việc tự tìm hiểu trực tiếp qua quan sát, giao tiếp với HS là rất ít.
- SV không biết làm thế nào để thu hút HS vào các hoạt động, chưa biết cách quản lí, giao tiếp với HS, chưa biết cách xử lí các tình huống sư phạm...: Qua phiếu GV cho thấy chỉ có 23.9% sinh viên thực tập là biết cách giải quyết các tình huống sư phạm. Điều này cũng thống nhất với ý kiến của sinh viên khi cho rằng họ gặp khó khăn nhiều trong việc giao tiếp, thu hút HS vào các hoạt động, trong việc xử lí các tình huống giáo dục.
Tóm lại, công tác chủ nhiệm lớp được cho là một trong những điểm yếu nhất của sinh viên khi thực tập ở trường phổ thông. Điều này được khẳng định tương đối thống nhất trong các ý kiến trả lời phỏng vấn, phiếu hỏi của BGH, GV hướng dẫn công tác chủ nhiệm và của chính sinh viên. Các em làm việc hoàn toàn thụ động, GV hướng dẫn nói gì thì làm như thế, không có sự sáng tạo, chủ động.
2.2 Nguyên nhân của những khó khăn trong công tác chủ nhiệm lớp:
Sinh viên đã nêu ra một số nhóm các nguyên nhân liên quan đến sĩ số lớp học, đến cơ sở vật chất của trường thực tập, đến thời lượng thực tập ít...nhưng có nhóm nguyên nhân quan trọng liên quan đến đào tạo, cụ thể là:
Nội dung giảng dạy về phương pháp giáo dục và công tác chủ nhiệm lớp còn quá ít cả về lí thuyết lẫn thực hành, thực tập;
- Các kiến thức được trang bị chưa sát với yêu cầu của thực tiễn phổ thông;
- Sinh viên chưa được trang bị các kiến thức và kĩ năng liên quan đến quản lí và thu hút HS tham gia vào các hoạt động;
- Chưa được trang bị đầy đủ và chưa nắm bắt được tâm lí học sinh và vì thế dẫn đến không hiểu HS, chưa biết cách giao tiếp có hiệu quả với HS;
Không có tài liệu hướng dẫn, tài liệu tham khảo có liên quan .....
Qua điều tra sinh viên về mức độ nắm vững và vận dụng các kiến thức liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp cho kết quả như sau:
Bảng: Mức độ nắm vững và vận dụng các kiến thức được đào tạo
|
TT |
Các nội dung đào tạo |
Hiểu |
Vận dụng |
Khó đánh giá |
|||
|
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
||
|
1 |
Các quá trình nhận thức của HS |
235 |
54.0 |
94 |
21.6 |
106 |
24.4 |
|
2 |
Sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em |
212 |
48.7 |
113 |
26.0 |
110 |
25.3 |
|
3 |
Các giai đoạn phát triển tâm lý trẻ em |
232 |
53.8 |
101 |
23.4 |
98 |
22.7 |
|
4 |
Những điều kiện phát triển tâm lý ở lứa tuổi HS THCS/THPT. |
205 |
48.8 |
138 |
32.9 |
77 |
18.3 |
|
5 |
Hoạt động giao tiếp của lứa tuổi THCS/THPT |
189 |
44.9 |
152 |
36.1 |
80 |
19.0 |
|
6 |
Những đặc điểm nhân cách ở lứa tuổi |
200 |
47.2 |
139 |
32.8 |
85 |
20.0 |
|
7 |
Một số vấn đề giáo dục học sinh |
171 |
40.9 |
140 |
33.5 |
107 |
25.6 |
|
8 |
Đạo đức và hành vi đạo đức |
202 |
47.9 |
180 |
42.7 |
40 |
9.5 |
|
9 |
Vấn đề GD đạo đức cho HS THCS /THPT |
189 |
45.7 |
150 |
36.2 |
75 |
18.1 |
|
10 |
Giao tiếp sư phạm |
147 |
34.8 |
249 |
58.9 |
27 |
6.4 |
|
11 |
Công tác chủ nhiệm lớp |
140 |
33.2 |
244 |
57.8 |
38 |
9.0 |
|
12 |
Thiết kế và tổ chức các hoạt động GDNGLL |
138 |
32.9 |
185 |
44.0 |
97 |
23.1 |
|
13 |
Phối hợp gia đình - nhà trường |
166 |
39.4 |
154 |
36.6 |
101 |
24.0 |
|
14 |
Phối hợp nhà trường - xã hội |
160 |
38.4 |
153 |
36.7 |
104 |
24.9 |
Qua bảng trên cho thấy các kiến thức ở trường sư phạm các em đã được trang bị liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp, nhưng đa số chỉ có khoảng 1/3 số sinh viên là hiểu và vận dụng được. Điều này hoàn toàn thống nhất với những đánh giá, nhận định về những khó khăn mà các em gặp phải trong công tác chủ nhiệm lớp như đã phân tích ở trên.
3. Kiến nghị về đào tạo công tác chủ nhiệm lớp và tổ chức các hoạt động giáo dục:
3.1 Kiến nghị về nội dung đào tạo
- Trang bị cho SV các kiến thức và kĩ năng cơ bản về công tác chủ nhiệm lớp như cách làm sổ sách, cách lập kế hoạch, các tổ chức các hoạt động giáo dục, cách làm việc với HS cá biệt… Nếu có thể trong tương lai gần nên nghĩ đến việc tách hẳn một bộ môn về công tác chủ nhiệm chứ không nên chỉ dừng lại ở một chương như hiện nay.
- Bổ sung thêm nội dung kiến thức và kĩ năng làm công tác Đội, công tác Đoàn.
- Tăng cường thêm các kiến thức liên quan đến tâm lí lứa tuổi, đến các phương pháp giáo dục, cách giải quyết các tình huống sư phạm, cách thu hút HS tham gia, cách tổ chức các hoạt động giáo dục, tổ chức trò chơi... cách thức quản lí học sinh, quản lí lớp học....
Theo điều tra của chúng tôi, chỉ có gần 50% sinh viên được hỏi cho rằng những kiến thức thể hiện ở môn tâm lí học, giáo dục học và phương pháp giảng dạy bộ môn là đủ để thực hiện hoạt động nghề nghiệp của mình. Tuy nhiên, trong kiến nghị những em này vẫn cho rằng cần bổ sung thêm một số nội dung khác có liên quan như phân tích ở trên.
3.2 Kiến nghị về thực hành, thực tập
- Tăng cường thực hành ngay trong trường đại học về công tác chủ nhiệm, cách tổ chức các hoạt động giáo dục thông qua việc quan sát, dự giờ, thực hành tại các trường thực hành và thông qua các tình huống giả định đa dạng để SV được trải nghiệm.
- Ngay từ năm thứ nhất và thứ hai nên cho sinh viên đi xuống trường phổ thông để quan sát, xem xét học hỏi thực tế nhà trường phổ thông, những công việc giáo viên phải làm, không nên đánh giá và cho điểm; Năm thứ ba và năm thứ tư- cho sinh viên thực tập tất cả nội dung có liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp.
- Tăng cường mối liên kết giữa trường ĐHSP và trường phổ thông: Cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa trường sư phạm và trường phổ để cập nhật chương trình, yêu cầu của phổ thông trong đào tạo bằng cách mời GV giỏi, có kinh nghiệm về hướng dẫn thực hành, rèn kỹ năng trong quá trình đào tạo.
Nói tóm lại, công tác chủ nhiệm lớp là một trong những nhiệm vụ bắt buộc mà bất cứ một giáo viên nào cũng phải đảm nhận trong quá trình công tác. Bên cạnh đó, nó còn có vị trí quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục toàn diện học sinh, là kênh chủ yếu qua đó tạo mối liên kết chặt chẽ giữa nhà trường - gia đình và xã hội. Có thể thấy, từ nhiệm vụ quy định trong điều lệ nhà trường đã được cụ thể hóa thành những việc làm cụ thể cũng như những loại hồ sơ, sổ sách mà người GVCN phải làm là rất nhiều. Để sinh viên ra trường có thể đáp ứng tốt công việc của GVCN ngay từ đầu là không thể, nhưng những nhiệm vụ nội dung cơ bản thì sinh viên cần được trang bị ngay từ trong quá trình đào tạo. Đã đến lúc cần có sự đổi mới đồng bộ từ nội dung, chương trình đến thực hành, thực tập về công tác chủ nhiệm lớp theo hướng gắn chặt hơn nữa với trường phổ thông.
Nguyễn Thị Kim Dung
VNCSP, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
( [1] Trích Điều lệ: Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Quyết định số: 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Điều lệ: Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Quyết định số: 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
2. Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên) (2005) – Giáo trình Giáo dục học, Tập II, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội.














